Theo các chuyên gia về giáo dục nghề nghiệp cho biết, khi các cơ sở giáo dục nghề nghiệp áp dụng cơ chế tuyển dụng giảng viên đồng cơ hữu sẽ có những thuận lợi nhưng vẫn bảo đảm các điều kiện chuẩn nhà giáo theo quy định.
- Nghĩa vụ quân sự 2026 chú trọng tuyển chọn công dân tốt nghiệp ĐH-CĐ
- Giảm phương thức xét tuyển và sớm công bố đề án tuyển sinh đại học 2026

Theo ThS. Luật sư Lê Văn Kiên: Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) đã bổ sung, điều chỉnh cho phép giảng viên đồng cơ hữu vào Luật Giáo dục nghề nghiệp đã giúp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tháo được nút thắt trong việc tuyển dụng và sử dụng giảng viên cơ hữu.
Theo Bà Phạm Thị Hường – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội cho hay, đây là bước tiến tích cực, thể hiện nỗ lực đổi mới tư duy quản lý đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp. Quy định tiếp cận theo hướng mở tiêu chuẩn năng lực, không còn thuần túy dựa vào bằng cấp sư phạm, mà chấp nhận các tiêu chí về kỹ năng nghề, kinh nghiệm thực tiễn, thành tích chuyên môn và đóng góp nghề nghiệp.
Theo ThS Lê Trọng Phương, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn thì việc sử dụng giảng viên đồng cơ hữu là hướng đi phù hợp với đặc thù giáo dục nghề nghiệp và thông lệ quốc tế. Với sự hiện diện của giảng viên đồng cơ hữu, khoảng cách giữa giảng đường Nhà trường và Cơ sở thực hành Bệnh viện được xóa nhòa. Bởi vì giảng viên đồng cơ hữu chính là “cầu nối” giúp các cơ sở khám chữa bệnh tuyển dụng được những sinh viên có tiềm năng đang thực hành thực tập tại bệnh viện khi các em tốt nghiệp ra trường, tránh việc phải đào tạo lại sau tuyển dụng.

Từ thực tiễn nhiều năm gắn bó với lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, chuyên gia giáo dục Lâm Văn Quản cho rằng, để mô hình giảng viên đồng cơ hữu thực sự phát huy hiệu quả cần hội tụ ít nhất bốn nhóm yếu tố cơ chế sau:
Thứ nhất, làm rõ bản chất pháp lý của “đồng cơ hữu”. Giảng viên đồng cơ hữu phải được phân biệt rõ với giảng viên thỉnh giảng hay chuyên gia mời giảng. Đây phải là lực lượng được tính là nhân sự chính thức của cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hợp đồng có thời hạn đủ dài, trách nhiệm gắn với chương trình, chuẩn đầu ra và chất lượng đào tạo.
Thứ hai, xác lập cơ chế phối hợp giữa đơn vị công tác và cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Giảng viên đồng cơ hữu luôn tồn tại song song hai mối quan hệ gồm nơi quản lý viên chức, trả lương và nơi sử dụng chuyên môn giảng dạy. Vì vậy, cần quy định rõ trách nhiệm chấp thuận của đơn vị đang công tác, tỷ lệ thời gian làm việc và cơ chế phối hợp quản lý, đánh giá.
Thứ ba, bảo đảm quyền lợi nghề nghiệp và động lực tham gia. Giảng viên đồng cơ hữu cần được hưởng đầy đủ quyền lợi theo hợp đồng tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, bao gồm thù lao, điều kiện chuyên môn, cơ hội phát triển nghề nghiệp và sự ghi nhận đóng góp trong đánh giá, thi đua.
Thứ tư, gắn mô hình đồng cơ hữu với bảo đảm chất lượng đào tạo. Việc sử dụng giảng viên đồng cơ hữu phải đi kèm với kiểm soát thực chất về khối lượng giảng dạy, chất lượng giờ học và hiệu quả đào tạo, tránh tình trạng “đồng cơ hữu trên hồ sơ”.
“Bộ GD&ĐT cần tiếp tục rà soát sự thống nhất giữa Luật Nhà giáo, Luật Giáo dục nghề nghiệp sửa đổi và Dự thảo Nghị định, nhất là về phạm vi đối tượng và tính liên thông trong hoạt động nghề nghiệp của nhà giáo; từng bước mở rộng phạm vi giảng viên đồng cơ hữu trên cơ sở tổng kết thực tiễn; ban hành hướng dẫn triển khai chi tiết, làm rõ trách nhiệm, quyền lợi của giảng viên và đơn vị có giảng viên tham gia đồng cơ hữu, coi đây là bộ phận cấu thành trong hệ sinh thái phát triển đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp”, ông Lâm Văn Quản kiến nghị.
Luật Sư Tư Vấn, Tranh Tụng Uy Tín, Luật Sư Ánh Sáng Công Lý Just another WordPress site
